Truy cập nội dung luôn
Đăng nhập

TUYÊN TRUYỀN LUẬT PHÒNG CHỐNG MA TÚY

09-03-2022 14:29

Tệ nạn ma tuý đang là hiểm hoạ của các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới; là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh với tệ nạn ma tuý là trách nhiệm chung của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Ngày 30/3/2021, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Phòng, chống ma túy - Luật số 73/2021/QH14 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022.

I. Về bố cục

          Luật Phòng, chống ma túy số 73/2021/QH14 gồm 8 chương, 55 Điều, được xây dựng trên cơ sở kế thừa Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2008. So với Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2008 giảm 1 Điều, giữ nguyên số chương, không quy định chương "Khen thưởng và xử lý vi phạm" và thêm chương mới "Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy".

          II. Nội dung cơ bản của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021

          1. Chương I. Những quy định chung

          Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 (sau đây gọi là Luật) đã bổ sung một số khái niệm mới nhằm thống nhất cách hiểu, áp dụng tại Điều 2:

          - Người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.

          Khái niệm này giúp phân biệt người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện ma túy để áp dụng các biện pháp phù hợp. Đồng thời, cũng xác định xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là căn cứ khách quan cần phải có để xác định hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

          - Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định chất ma túy trong cơ thể thông qua mẫu nước tiểu, mẫu máu hoặc các mẫu vật khác của cơ thể người. 

          - Cai nghiện ma túy là quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp người nghiện ma túy dừng sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép các chất này.

          - Cơ sở cai nghiện ma túy là cơ sở được thành lập để thực hiện đầy đủ quy trình cai nghiện theo quy định của Luật này, bao gồm cơ sở cai nghiện ma túy công lập và cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện.

          2. Chương II.

Trách nhiệm phòng, chống ma túy

          Luật đã quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, cộng đồng trong phòng, chống ma túy. 

 

Trong đó, Luật đã quy định rõ các cơ quan chuyên trách cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát Biển, Hải quan và nguyên tắc phối hợp của các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy. Cụ thể: "Trên cùng một địa bàn khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan thì cơ quan phát hiện trước có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền do pháp luật quy định; trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình thì chuyển giao hồ sơ, người, tang vật vi phạm pháp luật cho cơ quan có thẩm quyền chủ trì giải quyết" (Điều 11).

          3. Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy

          Về các chất được kiểm soát, Luật đã bổ sung việc kiểm soát đối với thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc và thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất.

          Về các hoạt động hợp pháp được kiểm soát, Luật bổ sung quy định kiểm soát các hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc và thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất nhằm tăng cường quản lý các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy, góp phần nâng cao năng lực phát hiện và ngăn chặn các đối tượng phạm tội sản xuất trái phép chất ma túy.

           Luật đã bổ sung quy định về vệc xử lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc, thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất bị thu giữ trong các vụ án hình sự, vụ việc vi phạm hành chính được xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. (Điều 21)

          4. Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (Chương IV)

          Đây là quy định mới của Luật so với Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008. Quy định của chương này nhằm tổ chức việc quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy ngay từ khi phát hiện lần đầu. Tư đó, ngăn chặn, giảm nguy cơ họ tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy và trở thành nghiện ma túy.

          4.1. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể (Điều 22)

          Căn cứ khái niệm người sử dụng trái phép chất ma túy, Luật đã quy định những trường hợp cần tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể để có căn cứ xác định người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời cũng tránh tình trạng xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể tràn lan, gây lãng phí và ảnh hưởng tới sinh hoạt, cuộc sống của người bị đề nghị xét nghiệm. 

          Đồng thời, việc xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể để phát hiện người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cũng là cở sở để áp dụng các biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Các trường hợp được xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể gồm:

          (1) Người bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy

          (2) Người mà cơ quan, người có thẩm quyền có căn cứ cho rằng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

          (3) Người sử dụng trái phép chất ma túy đang trong thời hạn quản lý

          (4) Người đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; đang cai nghiện ma túy; đang điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy.

          Việc xét nghiệm chất ma túy có thể do các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thực hiện hoặc đề nghị cơ quan, người có chuyên môn thực hiện.

Kết quả xét nghiệm là dương tính thì phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp.

          4.2. Nội dung quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 23)

          Việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định. Thời hạn quản lý là 01 năm kể từ ngày ra quyết định quản lý. Đây không phải là biện pháp xử lý hành chính.

          Trong thời gian quản lý, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức, phân công thực hiện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy gồm các nội dung: 

          a) Tư vấn, động viên, giáo dục, giúp đỡ người sử dụng trái phép chất ma túy để họ không tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy; 

          b) Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; 

          c) Ngăn chặn người sử dụng trái phép chất ma túy có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội.

          4.3. Trách nhiệm của người sử dụng trái phép chất ma túy, gia đình, cơ quan, tổ chức, cộng đông trong quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy

          - Người sử dụng trái phép chất ma túy phải cung cấp thông tin về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình cho Công an cấp xã nơi cư trú và chấp hành việc quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã.

          - Gia đình của người sử dụng trái phép chất ma túy có trách nhiệm quản lý, giáo dục người sử dụng trái phép chất ma túy; ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; cung cấp thông tin về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của người sử dụng trái phép chất ma túy cho công an cấp xã nơi người đó cư trú; ngăn chặn người sử dụng trái phép chất ma túy có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền đưa người sử dụng trái phép chất ma túy đi xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. 

          - Cơ quan, tổ chức nơi người sử dụng trái phép chất ma túy làm việc, cộng đồng nơi người sử dụng trái phép chất ma túy sinh sống có trách nhiệm động viên, giúp đỡ, giáo dục người sử dụng trái phép chất ma túy; ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; phối hợp với gia đình, cơ quan có thẩm quyền đưa người sử dụng trái phép chất ma túy đi xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể.

 

4.4. Lập danh sách người sử dụng trái phép chất ma túy

 

Công an cấp xã giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp lập danh sách người sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương.

 

Khi người sử dụng trái phép chất ma túy chuyển đi nơi khác thì Công an cấp xã nơi chuyển đi có trách nhiệm thông báo cho công an cấp xã nơi chuyển đến để cập nhật danh sách và tiếp tục quản lý.

 

Khi người sử dụng trái phép chất ma túy thuộc các trường hợp dừng quản lý, hết thời hạn quản lý hoặc chuyển đến cư trú ở địa phương khác thì Công an cấp xã giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp đưa người sử dụng trái phép chất ma túy ra khỏi danh sách.

 

5. Cai nghiện ma túy (Chương V)

 

5.1. Xác định tình trạng nghiện

 

Để xác định người nghiện ma túy thì phài xác định tình trạng nghiện ma túy. Đây là căn cứ khách quan, nhằm thống nhất cách hiểu về người nghiện, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác phân loại, quản lý đối tượng và việc áp dụng các biện pháp quản ý, cai nghiện phù hợp. 

Việc xác định tình trạng nghiện được thực hiện với người sử dụng trái phép chất ma túy đang trong thời gian quản lý bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; người sử dụng trái phép chất ma túy không có nơi cư trú ổn định; người đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; người đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; người tự nguyện xác định tình trạng nghiện ma túy.

Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện là nghiện ma túy thì người nghiện phải tham gia cai nghiện.

 

5.2. Các biện pháp cai nghiện ma túy

 

Các biện pháp cai nghiện gồm cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc. Biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện được thực hiện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại cơ sở cai nghiện ma túy; biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc được thực hiện tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập.

 

Quy trình cai nghiện ma túy gồm 5 giai đoạn, trong đó, việc cai nghiện bắt buộc phải thực hiện đầy đủ các giai đoạn, việc cai nghiện tự nguyện phải thực hiện ít nhất 3 giai đoạn: "Tiếp nhận, phân loại", "Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác", "Giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách" (Điều 29).

 

5.2.1. Cai nghiện tự nguyện

 

Người nghiện ma túy được lựa chọn biện pháp cai nghiện tự nguyện, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế phù hợp với điều kiện của mình. Khi người nghiện hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện thì được cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện (Điều 30, Điều 31).

 

Người cai nghiện ma túy tự nguyện khi hoàn thành ít nhất 03 giai đoạn cai nghiện "Tiếp nhận, phân loại", "Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác", "Giáo dục, tư vấn, phục hồi hành vi, nhân cách" được hỗ trợ kinh phí (Điều 30, 31).

 

Nhằm nâng cao hiệu quả và nguồn lực thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, Luật quy định cụ thể: (i) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; hướng dẫn, quản lý người cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng. (ii) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giao nhiệm vụ cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền trên địa bàn quản lý cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; tiếp nhận đăng ký và công bố danh sách tổ chức, cá nhân đủ điều kiện cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; bố trí kinh phí hỗ trợ công tác cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng (Điều 30).

 

5.2.2 Cai nghiện bắt buộc 

 

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi thuộc một trong các trường hợp:

 

(1) Người nghiện ma túy không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;

 

(2) Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;

 

(3) Người nghiện ma túy chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện;

 

(4) Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện (Điều 32). 

 

Việc cai nghiện bắt buộc cho người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân cấp huyện quyết định và không bị coi là biện pháp xử lý vi phạm hành chính (Điều 33).

 

Quy định cụ thể việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi (Điều 34).

Quy định cụ thể về Cơ sở cai nghiện ma túy công lập (Điều 35) và Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện (Điều 36).

 

5.3. Cai nghiện có yếu tố nước ngoài

 

          Bổ sung quy định người Việt Nam bị nước ngoài trục xuất về Việt Nam do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy khi về nước phải tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy. Trường hợp được xác định nghiện ma túy thì người đó phải thực hiện các biện pháp cai nghiện ma túy quy định tại Luật Phòng, chống ma túy.

 

Người nước ngoài nghiện ma túy sinh sống tại Việt Nam có trách nhiệm đăng ký thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy và phải chi trả toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến cai nghiện. Trường hợp không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện thì bị xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 37).

 

5.4. Quản lý sau cai nghiện

 

Việc quản lý sau cai nghiện được thực hiện tại nơi cư trú, không quy định biện pháp quản lý sau cai nghiện tại cơ sở cai nghiện. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định và tổ chức quản lý, hỗ trợ xã hội sau cai nghiện ma túy. Người đã hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện, người đã hoàn thành điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định. Người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện, người sau cai nghiện được hỗ trợ học văn hóa, học nghề, vay vốn, tìm việc làm và tham gia các hoạt động xã hội (Điều 40).

 

6. Quản lý nhà nước trong phòng, chống ma túy (Chương VI)

 

Luật quy định rõ nội dung quản lý Nhà nước và chỉ quy định trách nhiệm của một số Bộ có chức năng, nhiệm vụ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy gồm Bộ Công an, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Bộ Tài chính. Trong đó, Bộ Công an là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy (Điều 45).

 

7. Hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy (Chương VII)

 

Luật quy định các nội dung hợp tác quốc tế trên cơ sở nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi trong hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy qua đó nhằm góp phần tăng cường trao đổi thông tin, nguồn lực phục vụ cho công tác phòng, chống ma túy.

 

Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế đa phương và song phương trong lĩnh vực phòng, chống ma túy trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia với các nước; khuyến khích các tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài hợp tác với các cơ quan, tổ chức của Việt Nam hỗ trợ lẫn nhau về cơ sở vật chất, tăng cường năng lực pháp luật, thông tin, công nghệ đào tạo và y tế cho hoạt động phòng, chống ma túy (Điều 52).

 

Nhà nước Việt Nam thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hóa có kiểm soát trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về ma túy. Việc quyết định áp dụng và tiến hành biện pháp này thực hiện theo thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và của nước có liên quan (Điều 53). 

 

8. Điều khoản thi hành (Chương VIII)

 

Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

 

Quy định điều khoản chuyển tiếp bảo đảm việc triển khai, thi hành có sự tiếp nối với các quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2008, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ sở cai nghiện ma túy, người nghiện ma túy, người bị quản lý sau cai nghiện (Điều 55).

 

Giấy phép liên quan đến hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy đã được cấp, tiếp tục được sử dụng đến hết thời hạn ghi trên giấy phép.

 

Trong thời hạn 02 năm, các cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc được thành lập theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi bổ sung năm 2008 phải đáp ứng đủ điều kiện của cơ sở cai nghiện ma túy công lập theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi). 

 

                                                                                  Nguyễn Thị Thùy


Nguyễn Thùy

Thống kê truy cập

Đang truy cập: 7380

Tổng truy cập: 1121949